Phần Kết: Người Bạn Nơi Phương Xa
Bấm vào một đoạn để đánh dấu, tô sáng hoặc ghi chú.
“Sơ Cửu, ra tay đi!”
Từ Văn Thân và Hà Đoạn Nhĩ ở bên cạnh gào đến khản giọng.
Tôi cũng nóng ruột đến phát điên.
Nhưng rốt cuộc phải mở đại trận Kỳ Môn bằng cách nào? Đúng lúc tôi hoang mang nhất, trước mắt bỗng xuất hiện bóng dáng ông nội La Đại Thành. Ông đeo túi vải gai xanh, dùng ánh mắt hiền từ nhìn tôi rồi cười: “Sơ Cửu, cháu làm rất tốt.”
“Ông hỏi cháu, Khương Tử Nha phong thần, cuối cùng tự phong cho mình chức gì?”
Tôi sững người rồi lẩm bẩm: “Đèn lồng!”
Tôi nhớ ra. Khương Tử Nha tuy không tự phong mình làm thần, nhưng dân gian vì nhớ công của ông nên dùng hình tượng chiếc đèn lồng để tưởng nhớ.
Như vậy tôi đã hiểu cách mở đại trận.
Khương Công Bát Quái Bàn trong tay chính là chìa khóa. Còn cách mở nó chính là dùng đèn lồng. Tôi lập tức cúi người xuống.
Từ trong túi vải gai xanh, tôi lấy nến an hồn châm lên rồi gắn lên Khương Công Bát Quái Bàn.
Biến nó thành một chiếc đèn lồng đơn giản. Ngay lúc ánh lửa bùng sáng, khắp Lật Sơn đột nhiên sáng lên vô số ánh đèn. Từng cột khói trắng bốc thẳng lên trời.
Giống như một ngọn lửa khổng lồ bùng cháy, khiến cả Lật Sơn sáng rực.
Đại trận Kỳ Môn lập tức vận chuyển, lửa bắt đầu bao lấy tòa quỷ thành.
Sắc mặt vị Âm Tào từ hoảng loạn chuyển thành sợ hãi.
Khương Công Bát Quái Bàn mang theo ngọn lửa bay thẳng lên trời, sau đó như một đạo sấm ép xuống quỷ thành.
Cả tòa Phong Đô bị trấn mạnh xuống lòng đất.
Tôi nhìn quanh, trời đất dần trở lại như cũ.
Tới lúc đó tôi mới thật sự thở phào, như trút được gánh nặng nghìn cân.
Từ Văn Thân và Hà Đoạn Nhĩ không biết đã ngất từ lúc nào.
Tôi bấm nhân trung, cả hai mới từ từ tỉnh lại.
Khi chúng tôi xuống núi, tôi thấy Lưu lão gia vẫn đứng sừng sững, một thanh dao khâu xác cắm xuống đất.
Tôi mừng rỡ hét lớn: “Lưu lão gia, chúng ta thành công rồi!”
Nhưng Lưu lão gia không đáp. Tim tôi lập tức thắt lại.
Tới gần tôi mới phát hiện toàn thân ông đầy máu, đã không còn hơi thở từ lâu.
Ông chỉ dùng tay nắm chặt cán dao, cố giữ cho cơ thể không ngã xuống.
Tôi đứng chết lặng, không nói nổi lời nào.
Tôi tìm một mảnh đất có phong thủy tốt, chôn cất Lưu lão gia thật chu đáo.
Không lâu sau, Lý Tu Nhã gọi tới, nói đã tìm được Ngô Cương.
Tôi nói chuyện bên tôi cũng đã kết thúc, sẽ không quay lại Tấn Thành nữa, tránh gặp lại nhau rồi càng khó chia tay.
Tôi nhờ cô ấy xử lý Ngô Cương giúp.
Lý Tu Nhã làm việc rất dứt khoát. Chẳng bao lâu cô ấy gọi lại, nói đã điều tra rõ những chuyện Ngô Cương từng làm và đã xử lý hắn.
Tôi nói thêm với cô ấy vài câu rồi cúp máy.
Rời Lật Sơn, lúc chuẩn bị đi tôi bỗng gặp một đôi vợ chồng.
Hai người đang bế một đứa trẻ sơ sinh chuẩn bị lên núi.
Nhưng khuôn mặt người phụ nữ khiến tôi thấy vô cùng quen, nghĩ rất lâu mới nhớ ra.
Chính là Bạch Mao Sát.
Con Bạch Mao Sát tôi từng gặp trước kia. Sau khi hỏi mới biết quê của người phụ nữ này đúng là nơi Bạch Mao Sát từng nhắc tới.
Tôi theo người phụ nữ về khu mộ tổ, tìm được thi thể Bạch Mao Sát.
Tôi đào thi thể lên, tìm một mảnh đất phong thủy tốt rồi cải táng.
Bạch Mao Sát lại hiện ra, vẫn che chiếc ô giấy dầu như trước, mỉm cười: “La tiên sinh, cảm ơn ngài.”
“Phong Đô ở Tân Xuyên đã bị phá. Những oan hồn lệ quỷ tích tụ bao năm như chúng tôi giờ cũng có thể xuống dưới đầu thai. Sau này Tân Xuyên sẽ không còn xuất hiện nhiều Hung Sát như trước nữa.”
Tôi bật cười, nói vậy thì mình sắp thất nghiệp rồi. Tân Xuyên không còn lệ quỷ, tôi cũng chẳng hứng thú xem phong thủy cho mấy gia tộc lớn, chi bằng về nhà sống yên ổn.
Bạch Mao Sát thay những oan hồn ấy cảm ơn tôi.
Tôi nói đừng cảm ơn tôi, hãy cảm ơn những người đã chết: cha tôi, ông nội tôi, Lưu lão gia, cả Lưu Tải Vật.
Tất cả bọn họ đều đã trả giá bằng mạng sống để đổi lấy sự bình yên này.
Tân Xuyên cuối cùng cũng trở lại như trước.
Tôi cũng tới núi Chung Nam, đón Tiết Tiểu Nhã, bà nội cùng mọi người trở về.
Nhà tang lễ của Vương Phân mở cửa lại, chỉ là thiếu người.
Tôi không nhận việc nữa, chỉ an phận ở nhà.
Sản nghiệp nhà họ Tiết đủ để chúng tôi sống dư dả. Từ Văn Thân và Hà Đoạn Nhĩ cũng chẳng cần bôn ba kiếm sống.
Nhưng hai người họ không chịu ngồi yên. Tối đến Hà Đoạn Nhĩ vẫn xách chiêng ra ngoài đi tuần, còn Từ Văn Thân mặc vest chỉnh tề đi uống trà nói chuyện với bạn bè.
Tôi phụng dưỡng hai người họ lúc tuổi già.
Sức khỏe Tiết Tiểu Nhã có chút vấn đề, nhưng với tôi cũng không phải chuyện khó.
Tôi điều chỉnh phong thủy dương trạch, giúp cô ấy dưỡng một thời gian, chẳng bao lâu cơ thể đã khỏe lại.
Chỉ có một chuyện tôi vẫn luôn canh cánh.
Hai năm sau, đợi mọi chuyện hoàn toàn yên ổn, tôi lại lên đạo quán tìm Chử Bình.
Lần này Chử Bình không tránh tôi nữa.
Tôi nhìn Chử Bình hồi lâu, cuối cùng vẫn không nhịn được mà hỏi: “Hai năm trước, Trần lão gia tận mắt nhìn thấy thi thể ông. Người ta nói ông bị treo cổ, lưỡi cũng bị rút mất. Chử lão đạo sĩ, rốt cuộc ông là người hay là quỷ?”
Chử Bình không trả lời ngay. Ông chỉ khẽ mỉm cười, đưa tay rót cho tôi một chén trà.
“Sơ Cửu, cậu học âm trạch nhiều năm như vậy, chẳng lẽ vẫn cho rằng một người chết đi thì mọi chuyện đều chấm dứt?”
Tôi cau mày: “Ông đừng nói với tôi mấy lời huyền hoặc ấy. Tôi chỉ muốn biết người chết năm đó có phải ông hay không.”
“Là ta.”
Chử Bình đáp rất nhẹ, nhưng hai chữ ấy lại khiến sống lưng tôi lạnh buốt.
“Vậy người đang ngồi trước mặt tôi là ai?”
Chử Bình ngẩng đầu nhìn làn khói hương lững lờ trước điện thờ, hồi lâu mới chậm rãi nói: “Thân xác là thứ mượn của trời đất, sớm muộn cũng phải trả. Nhưng có những món nợ nhân quả, ngay cả chết rồi cũng chưa thể buông xuống.”
“Ý ông là…”
“Năm đó ta đã chết một lần. Còn hôm nay, ta chỉ đến để trả nốt món nợ cuối cùng với La gia các cậu.”
Tôi còn muốn hỏi tiếp, nhưng Chử Bình đã lắc đầu.
“Đừng hỏi nữa. Đợi khi cậu thật sự hiểu được hai chữ sinh tử, tự khắc sẽ biết vì sao ta vẫn có thể ngồi đây.”
Biết Chử Bình không muốn nói thêm về chuyện sống chết của mình, tôi cũng không gặng hỏi nữa. Nhưng trong lòng vẫn còn một điều khúc mắc suốt bao năm qua. Tôi bèn hỏi ông ấy, tại sao chuyện này nhất định phải do người La gia chúng tôi gánh vác, và tại sao chiếc Định La Bàn cùng Khương Công Bát Quái truyền lại từ đời trước lại nằm trong tay gia tộc chúng tôi.
Chử Bình thở dài.
Lúc này ông mới kể cho tôi chuyện xưa. Hóa ra người nhà họ La qua nhiều đời vẫn luôn là truyền nhân chân chính của Khương Công.
La Thị Kham Dư và Lưu Thị Dương Quái thật ra vốn chỉ là một bộ sách.
Trong đó bao gồm toàn bộ thuật âm trạch và dương trạch do Khương Công truyền lại.
Ngoài ra còn có một quyển pháp thuật, tiếc là qua nhiều năm đã thất truyền, chỉ còn hai nhánh âm dương cùng Khương Công Bát Quái.
Chuyện Phong Đô ở Tân Xuyên chỉ truyền nhân Khương Công mới thật sự giải quyết được.
Bởi Khương Công Bát Quái được lưu truyền chính là để trấn quỷ thành.
Cho nên trọng trách này chẳng ai có thể thay nhà họ La gánh. Ngay từ khi sinh ra, tôi đã mang số mệnh phải hoàn thành nó.
Cha tôi từng muốn giúp tôi tránh kiếp số, nhưng loại chuyện này làm sao tránh được.
Chử Bình biết tất cả chúng tôi đều không thể trốn nên mới viết thư, bảo cứ thuận theo số mệnh.
Nếu cố tình chống lại, để mọi chuyện bùng lên hoàn toàn thì cả Tân Xuyên có thể bị hủy.
Tôi thở dài rồi mắng Chử Bình vài câu cho hả giận.
Chử Bình chỉ cười khà khà, chẳng hề tức.
Cười được mấy tiếng, Chử Bình bỗng ho dữ dội, vừa ho vừa ngâm một bài thơ, ý tứ rất sâu:
“Cây không rễ, hoa thanh nhã, ai nỡ buông tay chốn bụi hồng.
Chuyện nổi trôi, thuyền bể khổ, dập dềnh trôi dạt chẳng thong dong.
Không bờ không bến khôn neo đậu, hiểm cảnh rồng cá mãi lượn vòng.
Biết quay đầu, ấy là bờ, chớ đợi ba đào nát thuyền nan.”
Tôi nghe mà chỉ cảm thấy câu chữ sâu xa khó hiểu.
Tôi với lấy bầu rượu trên bàn, ngửa đầu uống một ngụm lớn rồi cảm thán: “Chử lão đạo sĩ, con người sống trên đời thật sự chỉ như một cái cây không rễ sao?”
“Sao không nói gì?”
Tôi quay lại, bỗng thấy nụ cười vẫn còn trên mặt Chử Bình, nhưng ánh mắt đã hoàn toàn mất thần.
Tôi đưa tay tới trước mũi. Chử Bình đã tắt thở từ lúc nào.
Đến lúc này lòng tôi mới chấn động, trong khoảnh khắc hiểu ra tất cả. Chử Bình có lẽ vốn là người xuống trần để dẫn đường cho chúng tôi, giờ việc đã xong thì ông cũng trở về nơi mình phải về.
(HẾT).



